Nguồn: sách Levi chương 11 và 1 số đoạn khác.
Loài vật lớn có 4 chân
Trong các bản dịch thường chỉ dịch là động vật, nhưng từ này chỉ về các loài vật lớn có 4 chân như gia súc, vật nuôi hoặc thú thồ đồ…
-
ĐƯỢC ĂN
Chân có móng guốc và móng guốc xẻ (làm nhiều móng) và nhai lại:
bò, cừu, dê, nai, hươu, hoãng, sơn dương, linh dương, trâu rừng, mang
Chữ “nhai – lại” được dịch từ chữ “nhai/nghiền” và “lên”, chữ “lên” cũng hay được dùng với nghĩa “dâng tiến”
(Bộ móng guốc là loại động vật có vú lớn, gồm:
-
-
-
-
- móng guốc chẵn, có nhai lại và ăn tạp,
- móng guốc lẻ, không nhai lại,
- bộ voi, không nhai lại.
-
-
-
Vậy những thú được ăn thuộc Bộ guốc chẵn và nhai lại.
Có khoảng 270 loài móng guốc chẵn sống trên đất liền: lợn, lợn lòi Pecari, hà mã, linh dương, cheo cheo, nai, hươu cao cổ, lạc đà, lạc đà không bướu, lạc đà Alpaca, cừu, dê, và các gia súc khác.
Các loài trong Bộ Cá voi (Cetacea) như cá voi, cá heo và cá heo chuột đã tiến hóa từ những động vật móng guốc chẵn, vì vậy phân loại khoa học hiện nay kết hợp cả hai bộ này thành một bộ tên là Cetartiodactyla. )
-
KHÔNG ĐƯỢC ĂN
- Nhai lại nhưng không có móng guốc xẻ: lạc đà, con lửng đá, con thỏ
Con lửng (và 1 số con khác trong các đoạn tới) được dịch chưa chuẩn xác, chỗ dịch con thỏ, chỗ dịch con chồn, con chuột đồng… Lý do vì có lẽ con đó là con vật thuộc vùng đó thời đó, hiện tại có lẽ không còn, nên không có từ tương đương để dịch. Ở đây là 1 con vật nhai lại và không có móng guốc xẻ. Được kể chi tiết cho dân chúng dễ hiểu. Ngoài ra thì còn rất nhiều con vật không được ăn, nên trong các loài thú 4 chân thì chỉ được ăn trong bộ guốc chẵn nhai lại. Nhớ những con được ăn sẽ dễ hơn nhớ những con không được ăn.
-
- Có móng guốc xẻ đôi, nhưng không nhai lại: con lợn
Con lợn được kể rất nhiều trong kinh thánh là đồ ăn ô uế. Nhưng nó cũng chỉ là 1 trong số các đồ không được ăn.
-
- Có móng guốc nhưng không xẻ đôi, không nhai lại: ngựa, lừa, tê giác, lợn vòi, voi… (Phần này không được kể đến trong kinh thánh, là mình tự thêm vào)
- Mọi loài đi trên bàn chân thuộc loài thú đi bốn chân, chúng sẽ là nhơ đối với các ngươi.
Là các loài đi trên bàn chân, lòng bàn chân chứ không có móng guốc: chó, mèo, khỉ, chồn, gấu, hải cẩu… (Mình tự liệt kê)
-
KHÔNG ĐƯỢC ĐỤNG ĐẾN
- Trong thú vật các ngươi dùng để ăn thịt, nếu có con nào chết đi, thì ai đụng vào xác chết nó sẽ mắc uế cho đến chiều. Ai ăn thây nó sẽ phải giặt áo xống và mắc uế cho đến chiều; và ai khuân cất thây nó sẽ phải giặt áo xống và mắc uế cho đến chiều.
- Với những con vật không được ăn thịt: Thịt chúng, các ngươi sẽ không ăn, xác chết chúng các ngươi sẽ không đụng đến.
Loài dưới nước
-
ĐƯỢC ĂN
có vây, có vảy, trong nước ở biển hay ở sông suối
Vây: bộ phận chuyển hướng (ở đây là của động vật trong nước)
Chữ “vảy” trong chữ vảy cá, vảy gầu, vảy áo giáp…
(Một số bản dịch thì dịch luôn là Cá có vây có vảy, nhưng tra cứu thì chỉ là vật dưới nước có vây có vảy)
(Chữ biển chỉ 1 khối nước lớn, chữ này dùng được cả cho Biển Hồ Galile, cái chậu lớn trong sân đền. Nên chắc nó được sử dụng cho cả ao hồ?)
(Chữ sông suối chỉ dòng nước động (theo mình tra cứu))
(Tôm theo mình nghĩ là có vây, có vảy. Vậy có được ăn không? “AI” thì trả lời là nó là bộ giáp xác, không phải có vảy. Còn 1 bài viết khác nói rằng người Do Thái trước đây có phân loại tôm hùm nào được ăn, tôm hùm nào không được ăn. Nhưng giờ không còn hướng dẫn đó nữa nên họ không ăn? Còn nếu vảy dùng được với nghĩa áo giáp thì mình nghĩ tôm có cả vây cả vảy)
(Cá có vây có vảy, nhưng vảy chỉ một ít không bao hết thân có được ăn không? Hình như người Do Thái chỉ ăn cá có vảy bao trọn thân? Phần này Thiên Chúa không ghi rõ ra nên có lẽ vẫn ăn được?)
-
KHÔNG ĐƯỢC ĂN
- tất cả những vật không có vây vảy dưới biển sông suối, tất cả những thứ nhung nhúc trong nước, tất cả những sinh vật thở sống trong nước
Ví dụ: Cá da trơn, mực, ốc, ngao, sò, cua.. (mình tự kể)
(Nhung nhúc: chỉ những sinh vật nhỏ di chuyển với số lượng lớn, thường được dùng để mô tả côn trùng, bò sát và các loài động vật nhỏ khác di chuyển theo bầy đàn)
(Sinh vật thở sống trong nước: không biết mình dịch đúng không, theo mình hiểu là thú sống trong nước – động vật có vú sống trong nước: Cá voi, cá heo, hải cẩu, sư tử biển, hải mã, lợn biển, cá nược, hải ly, rái cá…)
-
- Phàm vật nào hoặc dưới biển, hoặc dưới sông, tức các loài sanh sản trong nước, mà không có vây và chẳng có vảy, thì các ngươi không nên ăn, phải lấy làm gớm ghiếc cho các ngươi.
-
KHÔNG ĐƯỢC ĐỤNG ĐẾN
-
- Thịt chúng, các ngươi sẽ không ăn, thây chúng các ngươi sẽ ghê tởm.
Loài bay
Chữ “bay” ở đây là chỉ chung cho những loài có cánh biết bay, trong đó có cả chim, gia cầm, hay những loài côn trùng có cánh. Từ gốc của nó chú trọng đến khả năng bay hơn là có cánh?
-
KHÔNG ĐƯỢC ĂN
- Kền kền, và diều hâu, và đại bàng, và ó, và các loại diều, mọi thứ quạ, đà điểu , và cú mèo, và mòng biển, và các loại chim ưng, và chim mèo, và bồ nông, và cò lửa, và chim cắc ké, và chim chàng bè, và cồng cộc, cò, các loại diệc, rẽ quạt, và dơi
(Khi tra cứu những từ này mình thấy khá lẫn lộn, có lẽ do hiểu biết về các giống loài chim hơi ít. Các dịch giả khác cũng vậy, mỗi người dịch 1 cách. Tóm lại thì là những loài chim dữ?)
-
- Loài bay nhung nhúc đi trên 4 chân: trừ các loại có khớp chân để nhảy trên đất, thì đều không được ăn.
(Loài bay ở đoạn này các bản dịch dịch là côn trùng)
Ong, chuồn chuồn, bướm, bọ, ve sầu…?
-
KHÔNG ĐƯỢC ĐỤNG ĐẾN
- chạm vào xác chết của chúng sẽ bị ô uế cho đến chiều tối
-
ĐƯỢC ĂN
- Các loài bay sạch
Mọi chim chóc, gia cầm trừ những vật cấm ở trên? Hay chỉ những loài có thể thật sự bay trừ những vật cấm ở trên?
-
- Loài bay bầy đàn đi trên 4 chân. Chỉ được ăn: con nào có cẳng để nhảy trên đất: các loại châu chấu, các loại cào cào, các loại sành sành, các loại muồm muỗm
(Phần này mình cũng không tra cứu, có bản dịch dịch cả ve, dế…. Levi 11:21-22)
Sinh vật nhỏ nhung nhúc sinh sôi trên đất
-
KHÔNG ĐƯỢC ĂN
- chuột chũi, chuột và các loại thằn lằn: thạch sùng, rùa, cắc kè, kỳ đà, kỳ nhông.
(Phần này mình cũng không tra cứu, thuộc Levi 11:29-30. Những con này được nhắc riêng cẩn thận về việc cách ly xác chết khỏi vật dụng và nước. Có lẽ vì khả năng gây bệnh của nó lớn. Còn mọi loài sinh vật nhỏ bầy đàn sinh sôi trên mặt đất thì đều không được ăn)
-
KHÔNG ĐƯỢC ĐỤNG ĐẾN
31 Phàm ai đụng vào chúng khi chúng chết rồi, thì sẽ mắc uế cho đến chiều. 32 Và khi chúng chết rồi có gì của chúng rơi xuống đồ vật nào, thì đồ vật ấy mắc uế, bất cứ là đồ gỗ, áo xống, da, bao bị hay đồ đoàn nào khác người ta dùng vào việc gì. Người ta sẽ cho vào nước, và nó sẽ mắc uế cho đến chiều rồi sẽ được sạch. 33 Và mọi bình sành bị vật gì của chúng rơi vào trong, thì mọi đồ đựng trong đó sẽ mắc uế, và các ngươi sẽ đập bể bình ấy đi. 34 Phàm đồ ăn nào người ta dùng đến mà bị nước (bình ấy) thấm vào sẽ mắc uế và thức uống nào người ta dùng đến, bất cứ trong bình nào, cũng mắc uế. 35 Có gì của thây chết chúng rơi xuống đồ vật nào, đồ vật ấy sẽ mắc uế: lò, bếp sẽ phải đập phá đi, chúng thành mắc uế, chúng sẽ là nhơ đối với các ngươi. 36 (Tuy rằng suối nước, giếng và ao nước vẫn là sạch), nhưng cái gì đụng đến thây chết của chúng sẽ mắc uế. 37 Nếu có gì của thây chết chúng rơi vào giống má gì để gieo vãi, thì hạt giống vẫn là sạch. 38 Nhưng nếu hạt giống đã ngâm nước và có gì thuộc thây chết của chúng rơi vào, thì giống ấy là nhơ đối với các ngươi. (bản dịch Nguyễn Thế Thuấn)
KHÔNG ĐƯỢC ĂN
-
- Mọi sinh vật nhỏ nhung nhúc sinh sôi trên đất: Mọi vật đi bằng bụng, bằng 4 chân, cho đến các loài nhiều chân trong số sinh vật nhỏ nhung nhúc sinh sôi trên đất.
Giun, sâu, côn trùng, kiến…
Act 10:12 Trong đó có mọi giống vật bốn chân và rắn rết sống trên đất, cùng mọi thứ chim trời.
Những thứ được liệt kê là : mọi giống vật 4 chân (sẽ là cả loài ăn được và không ăn được), rắn rết (loài ô uế), mọi thứ chim trời (thanh sạch và ô uế).
Huyết / máu
Lê-vi 17:10-12 Bất cứ người nào của nhà Y-sơ-ra-ên hay là kẻ khách kiều ngụ giữa họ, ăn bất kỳ loại huyết nào, thì ta sẽ để mặt ta chống lại cùng kẻ ăn huyết đó, truất nó khỏi dân sự mình; vì sự sống của xác thịt ở trong huyết; ta đã cho các ngươi huyết rưới trên bàn thờ đặng làm lễ chuộc tội cho linh hồn mình; vì nhờ sự sống mà huyết mới chuộc tội được. Bởi cớ đó ta đã phán cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Trong vòng các ngươi không ai được ăn huyết; kẻ khách kiều ngụ giữa các ngươi cũng không nên ăn huyết.”
Chữ “sự sống” ở đây, từ gốc là Thở (là từ mà mình dịch là: những sinh vật “thở” dưới nước), có lẽ là 1 cách gọi Khí hoặc 1 loại Khí. Khí ở trong Huyết.
Mỡ
Levi 7: 23 Chẳng nên ăn một thứ mỡ nào của bò, chiên hay là dê. 24 Mỡ của con thú nào chết hay là bị xé sẽ được dùng về mọi việc, nhưng các ngươi không nên ăn; 25 vì ai ăn mỡ của những thú người ta dùng lửa dâng cho YHWH, sẽ bị truất khỏi dân sự mình.
Hết thảy mỡ đều thuộc về Ðức YHWH: mỡ chài, mỡ bộ lòng, mỡ trên 2 trái cật cạnh hông, tấm màng mỏng bọc gan gần nơi 2 trái cật. (Levi 3:14-17)
Mỡ của gia cầm thì sao?
Sữa
Gen 18:6 Abraham lật đật vào lều, gặp Sara và bảo: “Mau! lấy ba đấu bột, bột tinh ấy, nhồi đi, và làm ít bánh tráng”. 7 Ðoạn ông chạy ra đàn bò là bắt một con bê non béo tốt, và ông trao cho tên đầy tớ và nó vội vã làm thịt.8 rồi lấy bơ, sữa và con bò con đã nấu xong, dọn ngay trước mặt các đấng; Còn ông, ông đứng bên hầu khách, dưới bóng cây và họ dùng bữa.
Exo 3:8 Ta ngự xuống đặng cứu dân nầy khỏi tay người Ai Cập, dẫn từ xứ ấy lên đến một xứ kia đẹp đẽ và rộng rãi, đượm sữa và mật, tức là nơi dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít và dân Giê-bu-sít ở.
(Vùng đất đượm sữa và mật được nhắc đến nhiều lần trong Kinh thánh. Vì sữa và mật là 2 thứ không bị cấm ăn)
Exo 34:26 Ngươi chớ nấu thịt dê con trong sữa mẹ nó.
Quan điểm cá nhân:
- Trong các loài động vật lớn/ gia súc, chỉ ăn bộ Móng Guốc Chẵn mà nhai lại. (học thuộc tên những con vật được phép ăn: bò, cừu, dê, nai, hươu, hoãng, sơn dương, linh dương, trâu rừng, mang)
- Trong các loài trong nước, loài nào có vây và vảy đều ăn được.
- Trong các loài chim và gia cầm, không ăn những loài chim dữ (những loại cũng không dễ kiếm để ăn), không ăn những loài côn trùng cánh (trừ họ cào cào, châu chấu); ngoài ra các loài chim nhỏ và gia cầm đều được ăn?
- Các động vật nhỏ nhung nhúc đều không được ăn: bò bụng, đi 4 chân hay nhiều chân.
- Các loại chuột và các loại thằn lằn (thạch sùng, rùa, cắc kè, kỳ đà, kỳ nhông): không được ăn, cần cẩn thận với xác chết chúng.
- Không ăn bất kỳ loại mỡ nào của bộ Móng Guốc Chẵn mà nhai lại. Được ăn dầu. (Được ăn mỡ gia cầm?)
- Không ăn huyết, không ăn động vật không cắt tiết (chết ngộp).
- Không đụng đến xác chết của bất cứ động vật nào: sạch hay ô uế.
- Không ăn đồ cúng
- Những đồ ăn không cấm: sữa, trứng của các loài thanh sạch. Mật ong.
| ĂN | KHÔNG ĂN | |
| Loài 4 chân | Trâu bò, cừu dê, nai hươu, hoãng, sơn dương, linh dương, mang (Bộ guốc chẵn và nhai lại). Không được ăn mỡ và huyết. | Các con còn lại |
| Dưới nước | Có vây có vảy | Các con còn lại |
| Chim, gia cầm | Chim lành và gia cầm. Không được ăn huyết. | Quạ, đại bàng, cú, ưng, cò, bồ nông, cắc ké, chàng bè, cồng cộc, diệc, rẻ quạt, dơi, kềm kềm, đà điểu, mòng biển, ó diều… |
| Côn trùng cánh | Châu chấu, cào cào, sành sành, muồm muỗm … (chân có cẳng nhẩy) | Các con còn lại |
| Sinh vật nhỏ nhung nhúc | Không được ăn. | Mọi vật đi bằng bụng, 4 chân hay nhiều chân |
| Cấm đụng thây chết | Tất cả các con ăn được và không ăn được | Đặc biệt: chuột chũi, chuột và các loại thằn lằn: thạch sùng, rùa, cắc kè, kỳ đà, kỳ nhông |