Phần 1. Giao ước hôn nhân và sự nghiêm trọng của việc lìa bỏ
1 Hôn nhân gắn kết
Ngay từ thuở ban đầu, hôn nhân được mô tả bằng những ngôn từ rất đẹp và mạnh mẽ:

“Người này là xương bởi xương ta, thịt bởi thịt ta.” (Sáng 2:23)

“Vì vậy, người nam sẽ lìa cha mẹ mình mà gắn bó với vợ mình, và hai người sẽ trở thành một thịt.” (Sáng 2:24)

Hôn nhân không chỉ là hợp đồng xã hội, mà là sự kết hợp toàn vẹn cả xác thịt lẫn tâm linh.
2 Luật buộc người nam phải chịu trách nhiệm với trường hợp trinh nữ bị cưỡng ép

“Nếu một người gặp một trinh nữ chưa hứa gả, nắm lấy nàng và nằm cùng, và bị bắt quả tang, thì người ấy phải nộp cho cha của trinh nữ năm mươi siếc-lơ bạc, và nàng sẽ làm vợ hắn, vì hắn đã hạ nhục nàng. Người ấy không được phép bỏ nàng suốt đời.” (Phục 22:28–29)

Điều này cho thấy: bỏ vợ là sự phản bội giao ước và gây thương tổn không thể xóa cho người nữ.
3 Đức Chúa Trời ghét việc “đuổi đi”

“Vì Yahweh, Đức Chúa Trời của Israel, phán rằng: Ngài ghét việc cho đi (šallaḥ שָׁלַח – đuổi, thả, cho đi)….” (Ma-la-chi 2:16)

šallaḥ là từ dùng trong luật ly dị, chỉ việc người nam đuổi vợ ra đi.
Phần 2. Người nam đuổi đi người nữ
1 ‘Erwat davar – một điều trần truồng ô nhục
(Phục 24:1–4)
‘erwah עֶרְוָה: trần truồng ô nhục.
davar דָּבָר: sự việc, điều.

“Nếu một người cưới vợ, mà thấy nơi nàng có
một điều trần truồng ô nhục nào đó, thì người ấy viết giấy ly dị, trao tận tay nàng, và cho nàng ra khỏi nhà mình.”

Viết giấy ly dị và đuổi vợ ra khỏi nhà khi thấy nàng phạm phải điều trần truồng ô nhục.
.
Cấm:
Nếu nàng đã lấy chồng khác, không bao giờ được quay về với chồng cũ.
2 Vợ ngoại thờ thần khác
Cấm kết hôn
“Chớ kết hôn với họ, vì họ sẽ làm lòng con xây khỏi theo Ta.” (Phục 7:3–4)

Cấm kết hôn với người ngoại vì sợ dân thay lòng.
Đuổi đi

“Vậy bây giờ, hãy lập giao ước với Đức Chúa Trời chúng ta mà đuổi (lehašalleaḥ) tất cả các vợ cùng con cái được sinh ra từ họ, theo ý của Chúa và của những người run sợ mệnh lệnh Đức Chúa Trời chúng ta. Và hãy làm theo luật pháp.” (Êxơra 10:3)

Ở đây xuất hiện động từ šallaḥ (dạng lehašalleaḥ) – “đuổi đi, cho đi.”

Đây là lời của 1 người dân nói với E-xơ-ra tư tế khi ông đang khóc sấp mình xưng tội trước YHWH. Sau đó chính ông cũng ra lệnh “hãy phân cách khỏi các dân tộc của xứ và khỏi những người vợ ngoại bang.” (10:11).
(Ở đây không thấy lời của YHWH.)
Sách Rút:
Lại cho thấy một ví dụ ngược – một phụ nữ ngoại (Rút người Mô-áp) quay về thờ Yahweh, được tiếp nhận và thậm chí trở thành tổ tiên Đa-vít.

Điều này cho thấy: vấn đề không phải “ngoại quốc” về chủng tộc, mà là ngoại thờ thần khác. Nếu người ngoại thật lòng quay về với Yahweh thì được chấp nhận, tôn vinh.
Phần 3. Người nữ được tự do ra đi
1 Amah (אָמָה) – người tỳ nữ
(Xuất 21:7–11)

“Khi một người bán con gái mình làm amah, nàng không được ra đi như nô lệ nam.
Nếu người lấy nàng cho mình… và lấy thêm vợ khác, thì chớ giảm thiểu thức ăn, áo mặc, và ‘onatah (עֹנָה – quyền vợ chồng) của nàng.
Nếu không làm ba điều ấy cho nàng, thì nàng sẽ ra đi miễn phí, không cần tiền chuộc.”

Luật bảo vệ người nữ bị yếu thế nhất. Nếu bị bỏ mặc vật chất hoặc quan hệ vợ chồng, nàng được tự do.
2 Vợ chiến thê
(Phục 21:10–14)

“…nhưng nếu ngươi không còn ưng thuận về nàng, thì phải để nàng đi tự do; chớ bán nàng, vì ngươi đã hạ nhục nàng.”

Nữ tù binh cưới làm vợ không được biến thành món hàng. Nếu người nam chán, nàng được thả.
1 Khi về lại nhà cha: ăn đồ thánh

“Nếu con gái thầy tế lễ trở thành góa bụa hay bị bỏ, không có con, thì nàng có thể trở về nhà cha, như thời con gái, và ăn phần đồ thánh của cha.”(Lê-vi ký 22:13)

Rất quan trọng: cho thấy người nữ bị bỏ hoặc góa, không con, thì trở về nhà cha và được hưởng quyền lợi như khi còn con gái. Chú ý cụm từ “ăn đồ thánh”.
2 Ban nước sự sống cho người nữ nhiều đời chồng.

Giăng 4:7–26
Một người đàn bà Sa-ma-ri đến giếng lấy nước.
Jesus nói: “Nếu ngươi biết ơn Đức Chúa Trời ban, và biết Đấng nói với ngươi rằng: Hãy cho Ta uống, thì ngươi đã xin, và Ngài đã ban cho ngươi nước sống.” (c.10)
Người đàn bà đáp: “Lạy chúa, xin ban nước ấy cho tôi, để tôi không khát và khỏi đến đây múc nước.” (c.15)
Jesus bảo: “Hãy đi gọi chồng ngươi.” (c.16)Người đàn bà thưa: “Tôi không có chồng.”Jesus đáp: “Ngươi nói đúng. Ngươi đã có năm đời chồng, còn người ngươi hiện có chẳng phải là chồng ngươi.” (c.17–18)

Ở đây: người đàn bà đã trải qua nhiều đời chồng (5 đời), hiện sống với một người không phải chồng mình. Nhưng Jesus bảo chỉ cần bà xin sẽ được ban nước sự sống.
️ Phần 5. Quyền định đoạt từ cha
Trong trường hợp dụ dỗ trinh nữ, cha nàng có quyền quyết định:

“Nếu một người dụ dỗ một trinh nữ chưa hứa gả và nằm cùng nàng… thì tất sẽ nộp síc-lơ để cưới nàng làm vợ. Nếu cha nàng từ chối không gả nàng cho hắn, thì hắn phải nộp tiền theo lễ síc-lơ của trinh nữ.” (Xuất 22:16–17)

Quyền của cha ở đây được từ chối gả con gái cho người đã dụ dỗ con gái mình
Phần 6. Người nữ ly hôn có thể tái hôn

“Nếu một người cưới vợ, mà thấy nơi nàng có một điều trần truồng ô nhục nào đó, thì người ấy viết giấy ly dị, trao tận tay nàng, và cho nàng ra khỏi nhà mình. Nàng ra khỏi nhà người ấy, và đi lấy người khác làm chồng…” (Phục truyền 24:1–2)

Luật pháp Môi-se công nhận: người nữ sau khi ly hôn được quyền kết hôn với người khác. Hôn nhân mới ấy là hợp pháp, không bị coi là ngoại tình.
Giới hạn

“Nếu người chồng sau cũng ghét nàng, viết cho nàng giấy ly dị… hoặc nếu người chồng sau chết… thì chồng cũ, là người đã đuổi nàng đi, không được phép lấy lại nàng làm vợ lần nữa, sau khi nàng đã bị ô uế. Vì đó là điều ghê tởm trước mặt YHWH.” (Phục truyền 24:3–4)
Vậy:
Người nữ có thể tái hôn sau ly dị.
Nhưng không thể quay lại với chồng cũ nếu đã kết hôn với người khác.

Luật này nhằm bảo vệ sự nghiêm túc của hôn nhân, không để việc ly dị trở thành trò qua lại tùy tiện.
Qua các văn đoạn, ta thấy:

Về phía Đức Chúa Trời: Ngài bày tỏ rằng Ngài ghét việc đuổi vợ cách tùy tiện, vì hôn nhân là giao ước gắn bó “một thịt”.

Về phía luật pháp Môi-se: có những quy định nhằm hạn chế sự tàn nhẫn, bảo vệ người nữ khỏi bị bỏ rơi, và thừa nhận quyền tái hôn hợp pháp cho người nữ sau ly dị (trừ trường hợp quay lại chồng cũ).

Về phía bối cảnh lịch sử: có lúc dân áp dụng luật ly dị để phân cách với vợ ngoại, nhưng điều đó không luôn phản ánh ý muốn trực tiếp của YHWH. Sách Rút minh chứng: người ngoại nếu thật lòng quay về thờ phượng YHWH thì được tiếp nhận và tôn vinh.

Về phía sự cứu rỗi trong Đấng Jesus: câu chuyện người đàn bà Sa-ma-ri từng có nhiều đời chồng cho thấy, dù quá khứ phức tạp đến đâu, vẫn có lời hứa ban “nước sự sống” cho người thật lòng tìm kiếm.

Như vậy, ly hôn trong Kinh Thánh không bị cấm tuyệt đối. Đức Chúa Trời ghét sự phản bội giao ước, nhưng Ngài cũng thương xót những mảnh đời gãy đổ, và luật pháp được ban để giảm thiểu thiệt hại, nhất là bảo vệ người nữ.


Cần nhớ: Kinh Thánh không hề lên án những người ly hôn. Trái lại, vẫn có con đường tái hôn hợp pháp, và có chỗ cho lòng thương xót cùng sự phục hồi.
Quan điểm cá nhân:
– Đct không cấm li hôn, vì Ngài biết có những tổn thương trong hôn nhân con người không thể tự gỡ được. Ngài cho phép li hôn dù không mong muốn điều đó. Có những cuộc hôn nhân càng kéo dài càng làm khổ người trong cuộc.
– Luật pháp Công Giáo cấm li hôn. Ai ở trong Catholic chắc cũng chứng kiến những người li hôn, đã rất đau khổ vì sự tan vỡ, lại phải chịu thêm sự kỳ thị từ cộng đồng, bị coi là kẻ tội lỗi.
==>> Nên nhớ Kinh thánh không hề lên án những người ly hôn, thay vào đó là sự thương xót.
– Việc ly hôn thành tội, bắt nguồn từ mấy sách ngụy thư, xong được đẩy lên thêm nhờ tôn giáo Roma.
– Người nữ trong cựu ước được nhiều luật pháp bảo vệ: tránh khỏi những tổn thương do hôn nhân mang lại, được trở về nhà cha. Bởi thời xưa người nữ là những người yếu thế cần được bảo vệ.
– Thời đó nam giới được lấy nhiều vợ, lại là phái mạnh nên không có luật bảo vệ cho nam. Mặc dù vậy, trong Công Giáo những người nam li hôn cũng chịu rất nhiều tổn thương, bị coi như tội nhân, không được lấy vợ mới. Và luật cấm những người linh mục tu sĩ không được phép lấy vợ.
=> Satan thêm bớt luật, thêm bớt vào lời Chúa gây nên những tổn thương cho những người tin vào lời đấy.